Bản ghi DNS là gì: A, CNAME, MX, TXT, NS dùng lúc nào

Giải thích bản ghi DNS là gì và đúng lúc nào dùng A, AAAA, CNAME, MX, TXT, NS, CAA, kèm bảng tra nhanh, cách hạ TTL trước khi đổi hosting và tự kiểm nslookup, dig.

Mở trang quản lý tên miền lần đầu, phần lớn người dùng gặp một danh sách dòng mã khó hiểu: A, CNAME, MX, TXT, NS. Đó chính là bản ghi DNS, các dòng chỉ dẫn cho hệ thống tên miền biết một tên miền trỏ về đâu, gửi thư qua đâu, ai được phép xác nhận thay mặt tên miền đó. Không phải loại nào cũng dùng cùng lúc. Bài này đi thẳng vào từng loại và đúng lúc nào thì cần loại nào.

Minh hoạ cho bài Bản ghi DNS là gì: A, CNAME, MX, TXT, NS dùng lúc nào

Bản ghi DNS là gì

Đây là một dòng dữ liệu lưu trên máy chủ tên miền, ánh xạ một tên (tên miền hoặc subdomain) sang một giá trị: địa chỉ IP, tên máy chủ khác, hoặc một chuỗi văn bản. Trình duyệt, ứng dụng email, hay bất kỳ dịch vụ nào cần tìm một tên miền đều đọc các dòng này để biết phải kết nối tới đâu.

Mỗi bản ghi có bốn phần cố định: tên (hostname), loại (type), giá trị (value) và TTL (thời gian cache). Một ký tự gõ nhầm ở giá trị cũng đủ khiến website hoặc email ngừng hoạt động.

Name server và bản ghi khác nhau chỗ nào

Name server là nơi LƯU các bản ghi, còn bản ghi DNS là NỘI DUNG bên trong đó. Nhầm hai khái niệm này là lỗi phổ biến nhất: sửa bản ghi ở một nơi không phải name server đang được tên miền trỏ tới thì sửa xong cũng như chưa sửa gì.

Khi đăng ký tên miền, nhà đăng ký gán cho bạn một cặp name server mặc định. Bạn khai báo bản ghi ngay trong trang quản lý DNS tên miền của nhà đăng ký, hoặc đổi sang name server của một bên khác. Một khi đổi name server, mọi bản ghi khai báo ở nơi cũ coi như vô hiệu, phải khai báo lại từ đầu ở name server mới. RFC 2182, tài liệu kỹ thuật về vận hành DNS phụ của IETF, khuyến nghị mỗi tên miền có ít nhất hai name server đặt ở mạng khác nhau, để một máy chủ gặp sự cố thì việc phân giải tên miền vẫn hoạt động qua máy chủ còn lại.

Bảng tra nhanh các loại bản ghi thường dùng khi trỏ tên miền

Bảy loại bản ghi dưới đây phủ gần hết nhu cầu của một website và hộp thư doanh nghiệp. Cột "dùng khi nào" là chỗ nên đọc kỹ nhất.

LoạiTrỏ vềDùng khi nàoVí dụ giá trị
AĐịa chỉ IPv4Trỏ tên miền hoặc subdomain thẳng về một máy chủ103.21.244.10
AAAAĐịa chỉ IPv6Trỏ về máy chủ có hỗ trợ IPv6, dùng song song với A2606:4700::1
CNAMEMột tên miền khácTrỏ subdomain (www, shop, blog) sang một đích đã có bản ghi A riêngwww.bizmac.com → bizmac.com
MXMáy chủ nhận emailKhai báo nơi xử lý thư gửi tới tên miền, có độ ưu tiên (priority)10 mail.bizmac.com
TXTChuỗi văn bản tự doXác minh quyền sở hữu, khai báo SPF, DKIM, DMARCv=spf1 include:_spf.google.com ~all
NSTên máy chủ DNSKhai báo name server phụ trách một tên miền hoặc subdomainns1.bizmac.com
CAATên tổ chức cấp chứng chỉGiới hạn CA nào được phép cấp SSL cho tên miền0 issue "letsencrypt.org"

Lỗi hay gặp với A và CNAME: tên miền gốc (ví dụ bizmac.com, không phải www.bizmac.com) không được phép đặt CNAME theo chuẩn DNS, vì bản ghi gốc còn phải giữ các loại khác như MX, TXT. Tên miền gốc luôn dùng A hoặc AAAA, chỉ subdomain mới dùng CNAME thoải mái.

Đang tự trỏ bản ghi mà chưa chắc đúng chỗ?

Tên miền .vn từ 210.000đ/năm tại BizMaC đi kèm toàn quyền quản trị DNS, đội kỹ thuật hỗ trợ khai báo A, MX, TXT khi bạn cần.

Xem bảng giá tên miền

TTL DNS là gì và vì sao phải hạ trước khi đổi hosting

TTL (Time To Live) là số giây một bản ghi được phép lưu trong bộ nhớ đệm (cache) trước khi trình phân giải phải hỏi lại name server gốc. RFC 1035, tài liệu chuẩn kỹ thuật DNS của IETF, định nghĩa TTL là một số nguyên 32-bit tính bằng giây. Quản trị viên thường đặt 3.600 giây (1 giờ) cho bản ghi hay thay đổi, và 86.400 giây (24 giờ) cho bản ghi ổn định lâu dài.

TTL càng cao, các trình phân giải trên toàn cầu càng giữ giá trị cũ lâu hơn sau khi bạn đã đổi bản ghi. Đây là lý do trước khi chuyển hosting hoặc đổi máy chủ email, nên hạ TTL bản ghi A hoặc MX liên quan xuống mức thấp (300 – 900 giây) trước vài ngày. Khi đổi thật, thời gian chuyển tiếp ngắn lại, người dùng ít gặp cảnh nửa thấy website cũ nửa thấy website mới tuỳ trình phân giải nào phục vụ họ.

TXT dùng để xác minh tên miền, SPF, DKIM, DMARC

Bản ghi TXT lưu chuỗi văn bản tự do, được ba nhóm việc dùng chung: xác minh quyền sở hữu tên miền cho các dịch vụ như Google Search Console hoặc Google Workspace, khai báo SPF để liệt kê máy chủ nào được phép gửi thư thay tên miền, và khai báo khoá DKIM, chính sách DMARC để chống giả mạo email.

Cái khó của TXT là cú pháp khắt khe. Chuỗi SPF viết sai một ký tự, thiếu dấu ngoặc kép, hoặc khai hai bản ghi SPF cùng lúc cho một tên miền (chuẩn DNS chỉ cho phép một) đều khiến máy chủ nhận thư nghi ngờ nguồn gửi giả mạo, đẩy thư vào mục spam dù nội dung hợp lệ. Tài liệu Google Search Central hướng dẫn xác minh quyền sở hữu tên miền qua TXT còn lưu ý nên chờ ít nhất 60 phút sau khi thêm bản ghi rồi mới bấm xác minh lại, vì giá trị mới cần thời gian lan truyền qua các máy chủ DNS trung gian. Với doanh nghiệp dùng dịch vụ email doanh nghiệp BizMaC, các bản ghi MX, TXT (SPF, DKIM) được đội kỹ thuật khai báo sẵn theo đúng chuẩn khi khởi tạo, giảm rủi ro gõ nhầm cú pháp so với tự khai báo thủ công.

Lỗi hay gặp khi cấu hình bản ghi DNS và cách tự kiểm tra

Bốn lỗi lặp lại nhiều nhất: đặt CNAME ở tên miền gốc thay vì subdomain, để hai bản ghi A cùng trỏ hai địa chỉ IP khác nhau khiến website chập chờn, quên khai báo cho www khiến khách gõ www.tenmien.com không vào được trong khi tenmien.com vẫn chạy, và sốt ruột vì sửa xong chưa thấy đổi ngay.

Trường hợp cuối không phải lỗi kỹ thuật mà là hiểu nhầm cơ chế cache. Trình phân giải ở nhà mạng, trình duyệt, hệ điều hành đều giữ giá trị cũ theo đúng TTL đã khai trước đó, nên đổi xong vẫn phải chờ hết TTL cũ mới thấy thay đổi đồng loạt. Đây cũng là lý do phần TTL ở trên khuyên hạ trước khi đổi.

Tự kiểm cấu hình DNS bằng nslookup hoặc dig

Không cần chờ người khác xác nhận, tự tra bằng dòng lệnh là cách nhanh nhất để biết DNS đã cập nhật hay chưa. Trên Windows, dùng nslookup tenmien.com để xem bản ghi A, hoặc thêm loại cần tra: nslookup -type=MX tenmien.com. Trên macOS và Linux, lệnh dig cho nhiều chi tiết hơn: dig tenmien.com TXT hoặc dig tenmien.com MX +short để chỉ in ra đúng giá trị cần xem.

Muốn loại trừ cache cũ trên máy mình, chỉ định thẳng một DNS công cộng: dig @8.8.8.8 tenmien.com A. Kết quả ở đó đã đúng nhưng máy mình vẫn thấy giá trị cũ thì đó là cache cục bộ, chỉ cần chờ hết TTL hoặc xoá cache DNS trên máy.

Với các gói Linux Hosting BizMaC, địa chỉ IP cần trỏ A luôn được ghi rõ trong email kích hoạt dịch vụ, còn cấu hình CAA giới hạn CA cấp chứng chỉ thường đi cùng lúc thiết lập dịch vụ chứng chỉ SSL BizMaC để tránh xung đột khi có chứng chỉ cấp từ CA khác ngoài danh sách cho phép.

Câu hỏi thường gặp về bản ghi DNS

Đổi xong bao lâu thì có hiệu lực?
Phụ thuộc TTL đang khai cho bản ghi đó. TTL 3.600 giây thì tối đa một giờ các trình phân giải sẽ cập nhật giá trị mới, TTL 86.400 giây có thể mất cả ngày. Hạ TTL trước khi đổi giúp rút ngắn thời gian chờ này.

Một tên miền có thể có bao nhiêu bản ghi MX?
Không giới hạn số lượng, mỗi bản ghi MX có một mức priority, số càng nhỏ càng ưu tiên. Khai nhiều MX để có máy chủ email dự phòng khi máy chủ chính gặp sự cố.

CNAME và A record khác nhau ở đâu?
A trỏ thẳng tới một địa chỉ IP. CNAME trỏ tới một tên miền khác rồi mượn bản ghi A của tên miền đó. Đổi IP máy chủ, các subdomain dùng CNAME tự động cập nhật theo, không phải sửa từng cái.

Vì sao thêm TXT cho SPF mà email vẫn vào spam?
Thường do khai hai bản ghi SPF trùng nhau, sai cú pháp include, hoặc thiếu luôn DKIM và DMARC đi kèm. SPF một mình không đủ, cả ba cần khớp nhau để máy chủ nhận thư tin tưởng nguồn gửi.

Không đổi name server thì có sửa được bản ghi không?
Được, miễn là sửa đúng nơi name server hiện tại của tên miền đang trỏ tới. Sửa ở nhà đăng ký trong khi tên miền đã đổi name server sang nơi khác thì thay đổi không có tác dụng gì.

Ghi nhanh

Bản ghi DNS là các dòng chỉ dẫn cho tên miền biết trỏ về đâu, gửi thư qua đâu, ai được xác minh thay mặt. A và AAAA trỏ IP, CNAME trỏ tên miền khác, MX nhận thư, TXT phục vụ xác minh và bảo mật email, NS khai báo name server, CAA giới hạn CA cấp SSL. Sửa bản ghi phải đúng name server đang trỏ tới, hạ TTL trước các đợt chuyển hệ thống lớn, và tự tra bằng nslookup hoặc dig trước khi kết luận DNS chưa cập nhật. Cần một nơi quản lý gọn cả tên miền lẫn DNS, dịch vụ tên miền BizMaC quản lý DNS đi kèm hỗ trợ khai báo khi bạn chưa quen thao tác. Danh sách bản ghi cần nắm khi vận hành một website nằm ở bài các bản ghi DNS cần biết khi quản trị website.

Lưu ý: Bài viết chia kinh nghiệm chung, còn mỗi doanh nghiệp một quy mô và một cách vận hành. Muốn biết cách nào hợp với trường hợp của bạn — chọn gói nào, làm theo thứ tự nào, chi phí ra sao — chuyên viên BizMaC tư vấn và làm giúp bạn phần kỹ thuật.

Đọc rồi mà vẫn ngại tự làm?

Để BizMaC dựng website cho doanh nghiệp bạn

Giao diện chuẩn UX, cấu trúc chuẩn SEO, chạy mượt trên di động và dễ tự quản trị sau khi bàn giao. BizMaC làm website cho doanh nghiệp Việt từ năm 2007, đi kèm hướng dẫn vận hành chứ không bàn giao xong là hết.

Khách hàng và các chỉ số lượt theo dõi, độ phủ, doanh thu của một website doanh nghiệp